Hiển thị các bài đăng có nhãn đái tháo đường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đái tháo đường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Cảnh báo các bệnh nguy cơ dẫn đến suy thận

Hiện nay, ở nước ta số người mắc bệnh suy thận ngày càng gia tăng cùng với tốc độ tăng của một số bệnh như bệnh đái tháo đường , cao huyết áp , viêm cầu thận , sỏi thận ....Vì vậy bạn cần dẫn đến suy thận để biết ngăn ngừa .


Suy thận được coi là biến chứng nguy hiểm và tốn kém nhất đối với bệnh nhân đái tháo đường. Thống kê cho thấy, có tới 40% số bệnh nhân bị suy thận là do đái tháo đường. Đứng sau đái tháo đường, tăng huyết áp cũng là bệnh lý có nguy cơ cao dẫn tới suy thận (chiếm 30%). Ngược lại, trong đa số các trường hợp, tăng huyết áp lại là hậu quả của suy thận mạn.

Ở những bệnh nhân đái tháo đường, đường huyết tăng cao thường xuyên trong máu sẽ làm tổn thương hệ thống lọc của thận. Sau một thời gian dài làm việc trong tình trạng này, hệ thống lọc bắt đầu bị phá hủy, các lỗ lọc trở nên to hơn, dẫn đến nhiều protein bị lọt ra ngoài. Dần dần, tổn thương thận ngày càng nặng hơn, hậu quả là có nhiều protein niệu ở nước tiểu, chức năng thận suy giảm dần. Khi suy thận chuyển sang giai đoạn cuối, nồng độ các chất thải độc hại trong cơ thể như urê, creatinin tăng lên rất cao, đe dọa tính mạng người bệnh đái tháo đường, đòi hỏi bệnh nhân phải được điều trị bằng lọc máu thường xuyên để đẩy bớt chất độc ra ngoài.

Đối với tăng huyết áp, đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới suy thận mạn (chỉ sau đái tháo đường). Theo lý giải của y học, trong bệnh tăng huyết áp, dòng máu dưới áp lực cao sẽ phá hủy thành mạch máu, làm giảm lượng máu cung cấp đến các bộ phận, trong đó có thận. Huyết áp cao cũng có thể gây phá huỷ bộ lọc ở cầu thận. Kết quả là làm suy giảm chức năng thận, khiến hạn chế việc loại bỏ những chất độc hại cũng như lượng nước dư thừa trong máu. Nước ứ thừa kết hợp với khả năng điều hòa huyết áp kém sẽ làm huyết áp càng tăng cao.

Bên cạnh tăng huyết áp và đái tháo đường, còn có rất nhiều các bệnh lý nguy cơ dẫn tới suy thận như: các bệnh lý tại thận (viêm cầu thận, sỏi thận…), lupus ban đỏ hệ thống, bệnh gút,…

Hiện nay, mặc dù đã có những nghiên cứu về phương pháp điều trị cũng như ngăn ngừa hậu quả của suy thận mạn do tăng huyết áp, đái tháo đường và các bệnh lý nguy cơ nhưng kết quả vẫn còn hạn chế. Nếu không có phương pháp điều trị bảo tồn thích hợp, khi suy thận chuyển sang giai đoạn cuối, việc chạy thận, ghép thận là bắt buộc để duy trì sự sống cho bệnh nhân, điều trị sẽ vô cùng khó khăn và tốn kém. Các chuyên gia khuyến cáo, hơn 65% bệnh nhân đái tháo đường khi được chẩn đoán không biết mình mắc bệnh và đã có nhiều biến chứng, trong đó điển hình là suy thận. Biến chứng thận hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách kiểm soát tốt đường huyết, huyết áp và các yếu tố nguy cơ. Kiểm tra protein niệu định kỳ 06 tháng/lần sẽ giúp phát hiện dấu hiệu suy thận sớm và hiệu quả điều trị sẽ cao hơn. Đối với tăng huyết áp, ngoài việc tự theo dõi huyết áp tại nhà, dùng thuốc ổn định huyết áp ở ngưỡng cho phép, người bệnh cần nghiêm túc tuân thủ việc khám định kỳ để đánh giá chức năng thận và các cơ quan khác.

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

Nên hạn chế thuốc trị đái tháo đường khi có bệnh thận

Bệnh đái tháo đường trên thế giới chiếm khoảng 60-70% các bệnh nội tiết , nó là biến chứng làm suy giảm đến chức năng thận .


                     Dùng các thuốc trị đái tháo đường cần chú ý tới chức năng của thận.
Bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ cao bị biến chứng dẫn đến giảm chức năng thận (suy thận) là một thực tế thường được nhắc đến. Vì vậy, một vấn đề rất quan trọng là việc điều chỉnh thuốc hạ đường huyết và liều lượng một khi bệnh nhân có hiện tượng suy giảm chức năng thận. Hiểu biết và tiên lượng được vấn đề này sẽ giúp hạn chế nguy cơ biến chứng của thuốc cho bệnh nhân đang điều trị bệnh đái tháo đường.

Mặc dù được phát hiện và điều trị tích cực để hạ đường huyết, hiện nay, người bệnh đái tháo đường vẫn bị suy thận tăng gấp 2,6 lần và khả năng tử vong do suy thận cũng tăng lên 3,6 lần ở những bệnh nhân này. Ở đại bộ phận bệnh nhân đái tháo đường, đến một thời điểm nào đó sẽ bị giảm chức năng thận. Khi chỉ số lọc máu của cầu thận giảm xuống dưới 60ml/phút thì việc sử dụng các thuốc hạ đường huyết cần phải được xem xét và điều chỉnh lại. Một số thuốc điều trị bệnh đái tháo đường cần dừng sử dụng (chống chỉ định), một số khác phải được giảm liều. Mặc dù đã có những cảnh báo, nhưng việc điều chỉnh thuốc điều trị bệnh đái tháo đường ở người bệnh bị suy giảm chức năng của thận rất ít khi được thực hiện. Hạ đường huyết là một trong bốn biến chứng phổ biến gây nguy hiểm đến tính mạng và làm tổn thương đến các cơ quan như: não, tim mạch của người bệnh và những biến chứng này có khả năng xảy ra thường xuyên hơn ở người bệnh bị suy giảm chức năng thận.

Hiện nay, bệnh đái tháo đường được phát hiện và điều trị rất tích cực ở các nước phát triển với kinh phí rất lớn nhưng các bệnh thận do tiểu đường gây nên ngày càng tăng và trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Nghiên cứu gần đây của các bác sỹ Thụy Sỹ cho thấy, đã có sự tăng vọt các trường hợp bệnh nhân bị tiểu đường phải lọc thận trong 8 năm gần đây (Nguồn: Colaus và cộng sự).


Cũng tương tự như ở Mỹ kể từ những năm 1990 đến nay, mặc dù chiến lược điều trị hạ đường huyết và hạ huyết áp được tăng cường ở bệnh nhân bị đái tháo đường, nhưng theo các nhà dịch tễ học thuộc Viện HNANES thì tỷ lệ bệnh nhân bị suy thận do đái tháo đường không hề giảm, thậm chí còn có chiều hướng tăng lên (Nguồn: De Boer và cộng sự).

Các thuốc điều trị bệnh đái tháo đường hiệu quả phải là thuốc thay đổi được nền tảng bệnh lý chuyển hóa đường và mỡ ở bệnh này chứ không phải chỉ đơn thuần là thuốc có tác dụng hạ đường huyết. Hiện nay, nhóm thuốc phổ biến nhất để điều trị bệnh đái tháo đường typ 2 là sulfonylurea và glinides. Một điều rất đáng tiếc là các thuốc này đều có thể gây biến chứng không mong muốn ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận dẫn đến khả năng làm cho bệnh nhân phải đi cấp cứu nếu ở mức độ nặng và làm suy giảm chức năng của toàn bộ các cơ quan quan trọng của cơ thể như: não, thận, gan, tim mạch nếu ở mức độ thấp hơn và kéo dài. Khi dùng kết hợp với insulin thì nguy cơ gây hạ đường huyết của nhóm thuốc kể trên tăng lên gấp 14 lần.


Với kết quả đáng ngạc nhiên này, các chuyên gia y khoa trên thế giới đã nêu ra vấn đề cấp bách trong điều trị bệnh đái tháo đường hiện nay là phải tìm các hướng mới và phương pháp điều trị hiệu quả hơn để ngăn chặn cũng như phục hồi sự suy giảm chức năng thận cho bệnh nhân đái tháo đường. Điều này rất quan trọng nếu chúng ta muốn giảm được tỷ lệ tử vong cũng như để nâng cao chất lượng cho bệnh nhân.

Bệnh suy thận điều cần biết


Bệnh suy thận hiện nay càng ngày càng gia tăng , chủ yếu do những biến chứng như bệnh đái tháo đường , cao huyết áp...Vì vậy bạn cần phát hiện và theo dõi chặt chẽ khi có bệnh .

Vận động nhẹ nhàng tốt hơn là chỉ nằm yên một chỗ 
 Ước tính 50% bệnh nhân đái tháo đường loại 1 (tuổi trẻ) sẽ mắc bệnh thận đái tháo đường sau 10 năm, và 20% bệnh nhân đái tháo đường loại 2 (lớn tuổi) mắc bệnh sau 20 năm. Tốc độ này có thể nhanh hơn nếu bệnh không được kiểm soát tốt.


Khi suy thận bước vào giai đoạn cuối, bệnh nhân chỉ có thể duy trì sự sống bằng những biện pháp thay thế chức năng thận như chạy thận nhân tạo định kỳ, thẩm phân phúc mạc và ghép thận.

Ở nước ta hiện nay chỉ có khoảng 10% bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối được điều trị thay thế chức năng thận, số còn lại đều tử vong do chi phí điều trị rất cao và mạng lưới y tế chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu về hình thức điều trị này.

Phát hiện và theo dõi


Suy thận mãn tính thường không có triệu chứng gì đặc biệt và chỉ biểu hiện ra ngoài như phù, thiếu máu, tăng huyết áp, buồn nôn và nôn khi chức năng thận đã giảm nặng. Đặc tính này khiến bệnh nhân và bác sĩ mất cảnh giác, điều trị ít hiệu quả vì bệnh đã ở giai đoạn trễ.

Cảm thấy mệt mỏi , chóng mặt
Do vậy, tất cả phải bắt đầu từ ngày đầu tiên được chẩn đoán đái tháo đường. Thầy thuốc phải xác định được thận đã tổn thương chưa, ở giai đoạn nào, chương trình theo dõi tổn thương thận phải được thực thi càng sớm càng tốt để từ đó có biện pháp điều trị tương ứng.

Cách theo dõi quan trọng nhất là dựa vào xét nghiệm nước tiểu. Biểu hiện sớm nhất là trong nước tiểu xuất hiện một lượng nhỏ albumin (một loại đạm), và chỉ được phát hiện nếu cố ý tầm soát. Đây là một xét nghiệm chuyên biệt và nên được thực hiện cho đái tháo đường loại 1 năm năm sau chẩn đoán đái đường, và hằng năm cho đái tháo đường loại 2.

Tổn thương thận càng nặng, lượng đạm mất vào nước tiểu càng nhiều, và càng được phát hiện dễ dàng hơn bằng xét nghiệm nước tiểu thông thường. Một số tình trạng bệnh ngắn hạn có thể làm lượng đạm trong nước tiểu tăng thoáng qua như huyết áp tăng, đường huyết tăng, suy tim, sốt... Do đó bác sĩ sẽ tùy theo tình trạng cụ thể của bệnh nhân mà chẩn đoán độ nặng của bệnh thận.

Bên cạnh đó cũng cần đánh giá chức năng thận bằng các xét nghiệm máu đo nồng độ các chất độc mà bình thường được thận đào thải, đó là xét nghiệm urê máu (urê là chất thải của quá trình chuyển hóa đạm) và creatinin máu (là chất thải của sự thoái biến tế bào cơ).

Tần suất làm các xét nghiệm sau đó là tùy bệnh nhân cụ thể, nhưng thường xuyên hơn khi bệnh nặng dần. Bệnh nhân nên được bác sĩ giải thích để nắm vững các giá trị bình thường và bất thường của các xét nghiệm nước tiểu và máu để hiểu thêm về bệnh cũng như hợp tác với bác sĩ trong theo dõi điều trị.

Vào giai đoạn điều trị chuyên sâu

Khi thận tổn thương, bệnh nhân đái tháo đường vẫn có thể được bác sĩ nội tiết theo dõi và điều trị. Tuy nhiên, khi những tổn thương này nhiều tới mức chức năng thận giảm dưới một phần tư giá trị bình thường, bệnh nhân nên được chuyển đến bác sĩ thận học nhằm được điều trị ở mức chuyên khoa sâu hơn, đem lại sự kiểm soát chức năng thận tốt hơn.

Đặc biệt khi thận suy nặng, những biện pháp điều trị trở nên đặc hiệu hơn, đòi hỏi theo dõi sát hơn.

Điều quan trọng hơn cả là bệnh nhân cần được chuẩn bị về mặt tâm lý lẫn cơ thể để bước vào giai đoạn điều trị thay thế chức năng thận. Bệnh nhân sẽ được tư vấn chọn hình thức điều trị thay thế nào (chạy thận, thẩm phân hay ghép thận), được trang bị kiến thức về hình thức điều trị mà mình đã chọn.

Nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân được chuẩn bị tốt thì tỉ lệ tử vong về sau cải thiện hơn so với những bệnh nhân không được chuẩn bị.

Đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường khi vào suy thận mãn giai đoạn cuối, cơ thể thường có những tổn thương ở nhiều cơ quan, nhất là hệ động mạch, do đó càng cần phải chuẩn bị tốt hơn, chẳng hạn như phải được tạo một cầu nối động tĩnh mạch vào thời điểm thích hợp nếu như bệnh nhân chọn hình thức điều trị thay thế là chạy thận định kỳ.


Những biện pháp sau đây đã cho thấy có hiệu quả trong trì hoãn sự xuất hiện của tổn thương thận do đái tháo đường:

• Kiểm soát tốt đường huyết (chỉ số HbA1C < 7% cho hầu hết bệnh nhân).

• Kiểm soát tốt huyết áp (huyết áp < 140/90 mmHg cho hầu hết bệnh nhân).

• Dùng thuốc ức chế hệ hormone renin - angiotensin - aldosterone. Khi các hormone này bị ức chế, sự mất đạm vào nước tiểu giảm đi, làm giảm tổn thương thận.