Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh suy thận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh suy thận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

Dễ dàng tránh bị suy thận với những thói quen tốt cho thận

Thận là cơ quan chủ yếu của hệ bài tiết trong cơ thể , khi thận bị hư hỏng sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với sức khỏe . Vì vậy cần thực hiện những thói quen dưới đây để thận luôn được tốt .


Hệ tiết niệu chịu trách nhiệm sản xuất, trữ và thải nước tiểu ra khỏi cơ thể. Thông qua việc bài tiết nước tiểu, cơ thể thải ra ngoài các chất độc và giữ thăng bằng cho môi trường bên trong cơ thể. Ngoài ra, thận cũng còn là một tuyến nội tiết tham gia vào việc tạo máu và điều hòa huyết áp động mạch.

Suy thận là tình trạng giảm hoạt động của thận, làm cho thận không đảm bảo được các nhiệm vụ của mình, ảnh hưởng đến hoạt động của toàn cơ thể.

Một số nguyên nhân gây suy thận


- Tiểu đường được xem là nguyên nhân hàng đầu gây suy thận ở các nước phát triển. Suy thận được xem là biến chứng mạn tính của tiểu đường, đặc biệt ở các bệnh nhân kiểm soát đường huyết kém hoặc có các bệnh lý đi kèm như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu. Biểu hiện sớm của tổn thương thận do tiểu đường là tiểu đạm vi thể. Cần làm xét nghiệm vi đạm niệu để tầm soát sớm biến chứng thận trên bệnh nhân tiểu đường.

- Huyết áp cao nếu không được kiểm soát, điều trị tốt sẽ dễ gây biến chứng suy thận. Giai đoạn sớm của tổn thương thận do cao huyết áp cũng là tiểu đạm vi thể.

- Thuốc: một số thuốc nếu dùng lâu dài với liều không thích hợp có thể gây suy thận như: nhóm thuốc kháng viêm không steroid (aspirin, diclofenac…), thuốc kháng sinh (Gentamycin, Amikacin…), thuốc chống lao, thuốc hóa trị, thuốc cản quang…

- Bệnh lý thận - niệu: sỏi thận, thận ứ nước, nhiễm trùng thận nếu không được điều trị kịp thời cũng có khả năng gây suy thận.

- Các trường hợp nhiễm trùng nặng như nhiễm trùng máu cũng có thể gây tổn thương nhiều cơ quan, trong đó có thận.

Ngoài ra, các nguyên nhân khác như chấn thương dập nát cơ, ong đốt, rắn cắn… cũng có thể gây suy thận. Lối sống cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chức năng của thận như việc ăn quá nhiều muối, đường, chất đạm, chất mỡ hoặc ăn ít rau quả, ít vận động, stress. Các yếu tố như thuốc lá, thực phẩm, nước, môi trường... cũng ảnh hưởng nhiều đến thận.

Các triệu chứng của bệnh thận:


Giai đoạn sớm, bệnh nhân có thể không có triệu chứng. Các triệu chứng của bệnh thận sẽ biểu hiện rõ khi chức năng thận giảm trên 90%.

Các triệu chứng của suy thận có thể bao gồm:

Tăng huyết áp; mất cảm giác ngon miệng; ngứa; tiểu đêm, tiểu nhiều lần; khó ngủ; khó thở; phù; đau đầu; buồn nôn và nôn; mệt mỏi; thiếu tập trung.

Các biện pháp phòng ngừa suy giảm chức năng thận


Cần chú ý đến các yếu tố nguy cơ gây suy thận. Nếu bạn có các yếu tố nguy cơ gây suy thận, cần kiểm tra chức năng thận định kỳ để phát hiện sớm bệnh lý và điều trị kịp thời.

Các triệu chứng của suy thận có thể mơ hồ, không đặc hiệu và có thể là triệu chứng của nhiều bệnh lý khác. Dưới đây là các yếu tố nguy cơ của suy thận:

- Tuổi từ 60 tuổi trở lên: tuổi cao làm suy giảm chức năng thận.

- Tiểu đường: lượng đường trong máu quá cao khiến thận phải làm việc quá nhiều, dần dần dẫn đến mất khả năng làm việc. Nếu bạn bị tiểu đường, cần kiểm soát tốt đường huyết.

- Cao huyết áp: nhiều nghiên cứu đã cho thấy tăng huyết áp gây suy thận và ngược lại, suy thận lại gây tăng huyết áp. Do đó cần kiểm soát tốt huyết áp.

- Hút thuốc lá: lối sống có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chức năng của thận, trong đó có việc hút thuốc lá.

Ăn các loại rau củ quả


Những thói quen tốt cho thận

- Duy trì mức cholesterol máu bình thường.

- Duy trì cân nặng lý tưởng, tránh thừa cân, béo phì bởi vì béo phì sẽ tăng nguy cơ bệnh tiểu đường và tăng huyết áp. Đây là những yếu tố nguy cơ chính của suy thận.

- Tránh hút thuốc lá: lối sống có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chức năng của thận, trong đó có việc hút thuốc lá .Các nhà khoa học đã chứng minh rằng hút thuốc lá là một yếu tố gây ra tiểu đạm làm tổn thương thận. Những người hút thuốc lá tăng nguy cơ suy thận gấp 3 lần những người không hút thuốc lá.

- Duy trì thói quen tập thể dục thường xuyên – ít nhất 30 phút tập thể dục mỗi ngày.

- Tránh uống các loại thức uống nhiều năng lượng, có cồn.

- Nên ăn các thức ăn có lợi như ít muối, ít chất béo, ăn nhiều cá, rau quả.

- Không tự ý dùng thuốc bừa bãi.

- Khám định kỳ mỗi 6 tháng hoặc 1 năm để phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh lý có khả năng gây suy thận.

Bệnh suy thận điều cần biết


Bệnh suy thận hiện nay càng ngày càng gia tăng , chủ yếu do những biến chứng như bệnh đái tháo đường , cao huyết áp...Vì vậy bạn cần phát hiện và theo dõi chặt chẽ khi có bệnh .

Vận động nhẹ nhàng tốt hơn là chỉ nằm yên một chỗ 
 Ước tính 50% bệnh nhân đái tháo đường loại 1 (tuổi trẻ) sẽ mắc bệnh thận đái tháo đường sau 10 năm, và 20% bệnh nhân đái tháo đường loại 2 (lớn tuổi) mắc bệnh sau 20 năm. Tốc độ này có thể nhanh hơn nếu bệnh không được kiểm soát tốt.


Khi suy thận bước vào giai đoạn cuối, bệnh nhân chỉ có thể duy trì sự sống bằng những biện pháp thay thế chức năng thận như chạy thận nhân tạo định kỳ, thẩm phân phúc mạc và ghép thận.

Ở nước ta hiện nay chỉ có khoảng 10% bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối được điều trị thay thế chức năng thận, số còn lại đều tử vong do chi phí điều trị rất cao và mạng lưới y tế chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu về hình thức điều trị này.

Phát hiện và theo dõi


Suy thận mãn tính thường không có triệu chứng gì đặc biệt và chỉ biểu hiện ra ngoài như phù, thiếu máu, tăng huyết áp, buồn nôn và nôn khi chức năng thận đã giảm nặng. Đặc tính này khiến bệnh nhân và bác sĩ mất cảnh giác, điều trị ít hiệu quả vì bệnh đã ở giai đoạn trễ.

Cảm thấy mệt mỏi , chóng mặt
Do vậy, tất cả phải bắt đầu từ ngày đầu tiên được chẩn đoán đái tháo đường. Thầy thuốc phải xác định được thận đã tổn thương chưa, ở giai đoạn nào, chương trình theo dõi tổn thương thận phải được thực thi càng sớm càng tốt để từ đó có biện pháp điều trị tương ứng.

Cách theo dõi quan trọng nhất là dựa vào xét nghiệm nước tiểu. Biểu hiện sớm nhất là trong nước tiểu xuất hiện một lượng nhỏ albumin (một loại đạm), và chỉ được phát hiện nếu cố ý tầm soát. Đây là một xét nghiệm chuyên biệt và nên được thực hiện cho đái tháo đường loại 1 năm năm sau chẩn đoán đái đường, và hằng năm cho đái tháo đường loại 2.

Tổn thương thận càng nặng, lượng đạm mất vào nước tiểu càng nhiều, và càng được phát hiện dễ dàng hơn bằng xét nghiệm nước tiểu thông thường. Một số tình trạng bệnh ngắn hạn có thể làm lượng đạm trong nước tiểu tăng thoáng qua như huyết áp tăng, đường huyết tăng, suy tim, sốt... Do đó bác sĩ sẽ tùy theo tình trạng cụ thể của bệnh nhân mà chẩn đoán độ nặng của bệnh thận.

Bên cạnh đó cũng cần đánh giá chức năng thận bằng các xét nghiệm máu đo nồng độ các chất độc mà bình thường được thận đào thải, đó là xét nghiệm urê máu (urê là chất thải của quá trình chuyển hóa đạm) và creatinin máu (là chất thải của sự thoái biến tế bào cơ).

Tần suất làm các xét nghiệm sau đó là tùy bệnh nhân cụ thể, nhưng thường xuyên hơn khi bệnh nặng dần. Bệnh nhân nên được bác sĩ giải thích để nắm vững các giá trị bình thường và bất thường của các xét nghiệm nước tiểu và máu để hiểu thêm về bệnh cũng như hợp tác với bác sĩ trong theo dõi điều trị.

Vào giai đoạn điều trị chuyên sâu

Khi thận tổn thương, bệnh nhân đái tháo đường vẫn có thể được bác sĩ nội tiết theo dõi và điều trị. Tuy nhiên, khi những tổn thương này nhiều tới mức chức năng thận giảm dưới một phần tư giá trị bình thường, bệnh nhân nên được chuyển đến bác sĩ thận học nhằm được điều trị ở mức chuyên khoa sâu hơn, đem lại sự kiểm soát chức năng thận tốt hơn.

Đặc biệt khi thận suy nặng, những biện pháp điều trị trở nên đặc hiệu hơn, đòi hỏi theo dõi sát hơn.

Điều quan trọng hơn cả là bệnh nhân cần được chuẩn bị về mặt tâm lý lẫn cơ thể để bước vào giai đoạn điều trị thay thế chức năng thận. Bệnh nhân sẽ được tư vấn chọn hình thức điều trị thay thế nào (chạy thận, thẩm phân hay ghép thận), được trang bị kiến thức về hình thức điều trị mà mình đã chọn.

Nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân được chuẩn bị tốt thì tỉ lệ tử vong về sau cải thiện hơn so với những bệnh nhân không được chuẩn bị.

Đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường khi vào suy thận mãn giai đoạn cuối, cơ thể thường có những tổn thương ở nhiều cơ quan, nhất là hệ động mạch, do đó càng cần phải chuẩn bị tốt hơn, chẳng hạn như phải được tạo một cầu nối động tĩnh mạch vào thời điểm thích hợp nếu như bệnh nhân chọn hình thức điều trị thay thế là chạy thận định kỳ.


Những biện pháp sau đây đã cho thấy có hiệu quả trong trì hoãn sự xuất hiện của tổn thương thận do đái tháo đường:

• Kiểm soát tốt đường huyết (chỉ số HbA1C < 7% cho hầu hết bệnh nhân).

• Kiểm soát tốt huyết áp (huyết áp < 140/90 mmHg cho hầu hết bệnh nhân).

• Dùng thuốc ức chế hệ hormone renin - angiotensin - aldosterone. Khi các hormone này bị ức chế, sự mất đạm vào nước tiểu giảm đi, làm giảm tổn thương thận.

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2016

Những dấu hiệu đặc trưng cảnh báo bệnh thận không được bỏ qua

Là một căn bệnh phổ biến , bệnh có triệu chứng âm thầm , khó phát hiện . Vì thế , khi mắc bệnh thì người bệnh đã vào dài đoạn khá nguy hiểm .


Thận giữ vai trò quan trọng cho cơ thể sống. Tuy nhiên, hiện nay ngày càng có nhiều người mắc phải căn bệnh thận mãn tính, vốn ảnh hưởng tới hàng triệu người trên toàn thế giới.

Nguyên nhân là do các triệu chứng bệnh dễ bị bỏ qua khiến cho người bệnh chủ quan, không đi khám kịp thời.

Khi thận bị suy giảm chức năng, các chất phế thải, độc tố và nước sẽ tích tụ lại trong cơ thể gây nguy hiểm cho sức khỏe. Nếu không điều trị sẽ dẫn đến suy thận, kết quả là người bệnh phải chạy thận hoặc ghép thận.

Do đó, từ một dấu hiệu rất nhỏ, bạn cũng không nên bỏ qua. Dưới đây là những dấu hiệu đặc trưng, thường xuất hiện mỗi khi thận có vấn đề.

1. Thay đổi khi đi tiểu


Nhiệm vụ của thận là tạo ra nước tiểu và loại bỏ chất thải. Bất kỳ sự thay đổi về số lần đi tiểu, màu sắc nước hoặc sự xuất hiện của nước tiểu đều cần phải lưu ý.

Ví dụ nếu bạn thường phải thức dậy nhiều lần vào ban đêm để đi tiểu. Nguyên nhân có thể là do chức năng lọc của thận bị suy yếu và những thay đổi khác như nước tiểu có nhiều bọt, nước tiểu có máu, đi tiểu khó khăn.

Nếu có các triệu chứng trên, bạn không nên chủ quan mà phải đi khám bác sĩ ngay để được điều trị kịp thời.

2. Phù nề

Một dấu hiệu dễ nhận biết nhất khi mắc bệnh thận chính là phù nề. Do thận không thể loại bỏ chất lỏng dư thừa, từ đó tích tụ lại trong cơ thể. Điều này sẽ dẫn đến phù ở chân, mắt cá chân, bàn chân, mặt và bàn tay.

3. Mệt mỏi, chán ăn

Nếu đêm hôm qua ngủ rất ngon nhưng hôm nay lại thấy rất mệt mỏi, bạn hãy nghĩ ngay đến khả năng thận đang gặp vấn đề.

Bởi khi bị suy yếu, thận sẽ không sản xuất đủ lượng erythropoietin, một loại hoóc môn cần thiết để tạo ra các tế bào hồng cầu dẫn đến mệt mỏi và thiếu máu.

4. Chóng mặt, khó tập trung

Khi thận suy giảm chức năng, sẽ gây ra thiếu máu và làm cho não không nhận đủ ô xy. Kết quả là bạn bị chóng mặt, khó tập trung và mắc các vấn đề liên quan đến trí nhớ.

Thiếu máu cũng khiến bạn cảm thấy lạnh một cách bất bình thường cho dù đang ở trong một môi trường ấm áp.

5. Ngứa da, chuột rút

Khi thận bị yếu, các chất thải sẽ tích tụ trong máu và điều này gây phát ban, ngứa ngáy trầm trọng. Ngoài ra, thận suy yếu còn gây ra tình trạng mất cân bằng điện giải trong cơ thể, khiến bạn thường xuyên bị chuột rút.

6. Hơi thở có mùi hôi.

Do chất lỏng dư thừa tích tụ trong phổi và sự thiếu hụt các tế bào hồng cầu mang ô xy đi khắp cơ thể khiến bạn bị khó thở, hụt hơi hoặc thở hổn hển.

Hơn nữa, thận suy yếu làm tăng mức độ urê trong nước bọt. Urê này được phân hủy thành amoniac gây ra hơi thở có mùi khai như nước tiểu, từ đó ảnh hưởng đến khẩu vị của người đó.

Vì thế mà người bị bệnh thận thường ăn không ngon và dẫn đến giảm cân.

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2016

Dinh dưỡng cho người suy thận

Một chế độ dinh dưỡng phù hợp cho người suy thận sẽ giúp cho người bệnh có một sức khoẻ tốt hơn , tăng sức đề kháng của thận trong cơ thể .



Thực phẩm giàu đạm không tốt cho thận


Đối với bệnh nhân bị suy thận phải ăn chế độ ăn giàu năng lượng, tăng khoảng 30% so với bình thường (khoảng 2.000 kcalo/ ngày), chia nhỏ bữa ăn ra thành 4 – 6 bữa/ngày.Người mắc bệnh thận cũng nên hạn chế ăn chất đạm vì việc chuyển hóa đạm trong cơ thể sẽ tạo ra nhiều chất độc hại, các chất này được lọc qua thận gây quá tải và tổn thương thận. Hạn chế dùng dầu mỡ trong chế biến thức ăn, nên chọn phương pháp chế biến là luộc.

Nếu không phải lọc thận, đừng hạn chế lượng nước bổ sung mà hãy uống khi nào cảm thấy khát. Trong đó, việc kiểm soát chế độ ăn, uống là điều hết sức cần thiết và lượng thức ăn đảm bảo giá trị dinh dưỡng cũng là một vấn đề quan trọng.

Muối là nguyên nhân chính gây bệnh thận mạn tính. Ăn nhiều muối sẽ dẫn đến giữ nước trong cơ thể, tăng áp suất trong các mạch máu thận làm tăng gánh nặng cho thận.

Các bác sĩ khuyến cáo, những người mắc bệnh về thận cần phải ăn nhạt và không nên ăn quá 2 – 4g muối mỗi ngày. Người bị tăng huyết áp kèm theo thì nên hạn chế dùng muối đến mức thấp nhất.


Nếu ăn không đủ năng lượng sẽ làm thay đổi sự trao đổi chất trong cơ thể. Cơ thể sẽ đốt cháy mỡ và đạm của các tổ chức mô làm cho cơ thể gầy yếu, đồng nghĩa với việc tăng hàm lượng chất độc và lúc này chế độ ăn hạn chế đạm sẽ là vô nghĩa.

Hàm lượng kali có thể tăng cao ở bệnh nhân suy thận hoặc đối với những ai đang phải lọc thận. Hàm lượng rất cao chất này có thể gây nguy hiểm và khiến tim ngừng đập. Kali có nhiều trong những thực phẩm như: đậu nành, chuối, nho, trái cây khô, chocolate, cá hồi,…

Cần phải hạn chế ăn các thức ăn có chứa nhiều phospho như: phô-mai, gan, các loại đậu,… Khi hàm lượng phospho trong cơ thể quá nhiều có thể gây suy thận, đau tim và những bệnh liên quan tới xương.

Không nên ăn các đồ kích thích như ớt, hạt tiêu, hành, tỏi; không ăn thức ăn chua, không ăn các loại nấm, không nên ăn các thức ăn chế biến sẵn như thịt cá đóng hộp, thịt cá xông khói,…

Không nên uống rượu, bia, các loại nước khoáng, đặc biệt là nước khoáng có nhiều natri. Có thể uống các loại nước như nước mưa đun sôi, nước hoa quả tươi,… Tuy nhiên, lượng nước bổ sung cho cơ thể cũng cần được theo dõi kỹ.



Uống 2 lít nước mỗi ngày

Nếu không phải lọc thận, đừng hạn chế lượng nước bổ sung mà hãy uống khi nào cảm thấy khát. Nếu cơ thể giữ nước, nên hạn chế dùng muối. Vì khi dùng muối cơ thể sẽ không kiểm soát được lượng nước và lúc nào cũng cảm thấy khát.

Các thức ăn tốt cho bệnh nhân thận như gạo, bánh mì không có muối, mì ống, khoai tây và các loại rau khác. Người bệnh thận có thể uống sữa, không hạn chế các thức ăn chay. Nên ăn các loại trái cây tốt cho thận như táo, dưa hấu, lê,…

Người suy thận cũng cần ăn uống đầy đủ bốn thành phần là chất đường bột, chất đạm, chất béo và chất khoáng – vitamin như người bình thường.

Thực đơn trung bình cho người suy thận hằng ngày: Bột đường 300g – 450g; béo 45 – 55g, đạm 20 – 27g, khoáng – vitamin như người bình thường, tổng số calo năng lượng 1.600- 2.000 kcalo. Nên hạn chế chất đạm, uống nước vừa phải và hạn chế muối ăn, hạn chế thức ăn giàu kali.