Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

Dễ dàng tránh bị suy thận với những thói quen tốt cho thận

Thận là cơ quan chủ yếu của hệ bài tiết trong cơ thể , khi thận bị hư hỏng sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với sức khỏe . Vì vậy cần thực hiện những thói quen dưới đây để thận luôn được tốt .


Hệ tiết niệu chịu trách nhiệm sản xuất, trữ và thải nước tiểu ra khỏi cơ thể. Thông qua việc bài tiết nước tiểu, cơ thể thải ra ngoài các chất độc và giữ thăng bằng cho môi trường bên trong cơ thể. Ngoài ra, thận cũng còn là một tuyến nội tiết tham gia vào việc tạo máu và điều hòa huyết áp động mạch.

Suy thận là tình trạng giảm hoạt động của thận, làm cho thận không đảm bảo được các nhiệm vụ của mình, ảnh hưởng đến hoạt động của toàn cơ thể.

Một số nguyên nhân gây suy thận


- Tiểu đường được xem là nguyên nhân hàng đầu gây suy thận ở các nước phát triển. Suy thận được xem là biến chứng mạn tính của tiểu đường, đặc biệt ở các bệnh nhân kiểm soát đường huyết kém hoặc có các bệnh lý đi kèm như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu. Biểu hiện sớm của tổn thương thận do tiểu đường là tiểu đạm vi thể. Cần làm xét nghiệm vi đạm niệu để tầm soát sớm biến chứng thận trên bệnh nhân tiểu đường.

- Huyết áp cao nếu không được kiểm soát, điều trị tốt sẽ dễ gây biến chứng suy thận. Giai đoạn sớm của tổn thương thận do cao huyết áp cũng là tiểu đạm vi thể.

- Thuốc: một số thuốc nếu dùng lâu dài với liều không thích hợp có thể gây suy thận như: nhóm thuốc kháng viêm không steroid (aspirin, diclofenac…), thuốc kháng sinh (Gentamycin, Amikacin…), thuốc chống lao, thuốc hóa trị, thuốc cản quang…

- Bệnh lý thận - niệu: sỏi thận, thận ứ nước, nhiễm trùng thận nếu không được điều trị kịp thời cũng có khả năng gây suy thận.

- Các trường hợp nhiễm trùng nặng như nhiễm trùng máu cũng có thể gây tổn thương nhiều cơ quan, trong đó có thận.

Ngoài ra, các nguyên nhân khác như chấn thương dập nát cơ, ong đốt, rắn cắn… cũng có thể gây suy thận. Lối sống cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chức năng của thận như việc ăn quá nhiều muối, đường, chất đạm, chất mỡ hoặc ăn ít rau quả, ít vận động, stress. Các yếu tố như thuốc lá, thực phẩm, nước, môi trường... cũng ảnh hưởng nhiều đến thận.

Các triệu chứng của bệnh thận:


Giai đoạn sớm, bệnh nhân có thể không có triệu chứng. Các triệu chứng của bệnh thận sẽ biểu hiện rõ khi chức năng thận giảm trên 90%.

Các triệu chứng của suy thận có thể bao gồm:

Tăng huyết áp; mất cảm giác ngon miệng; ngứa; tiểu đêm, tiểu nhiều lần; khó ngủ; khó thở; phù; đau đầu; buồn nôn và nôn; mệt mỏi; thiếu tập trung.

Các biện pháp phòng ngừa suy giảm chức năng thận


Cần chú ý đến các yếu tố nguy cơ gây suy thận. Nếu bạn có các yếu tố nguy cơ gây suy thận, cần kiểm tra chức năng thận định kỳ để phát hiện sớm bệnh lý và điều trị kịp thời.

Các triệu chứng của suy thận có thể mơ hồ, không đặc hiệu và có thể là triệu chứng của nhiều bệnh lý khác. Dưới đây là các yếu tố nguy cơ của suy thận:

- Tuổi từ 60 tuổi trở lên: tuổi cao làm suy giảm chức năng thận.

- Tiểu đường: lượng đường trong máu quá cao khiến thận phải làm việc quá nhiều, dần dần dẫn đến mất khả năng làm việc. Nếu bạn bị tiểu đường, cần kiểm soát tốt đường huyết.

- Cao huyết áp: nhiều nghiên cứu đã cho thấy tăng huyết áp gây suy thận và ngược lại, suy thận lại gây tăng huyết áp. Do đó cần kiểm soát tốt huyết áp.

- Hút thuốc lá: lối sống có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chức năng của thận, trong đó có việc hút thuốc lá.

Ăn các loại rau củ quả


Những thói quen tốt cho thận

- Duy trì mức cholesterol máu bình thường.

- Duy trì cân nặng lý tưởng, tránh thừa cân, béo phì bởi vì béo phì sẽ tăng nguy cơ bệnh tiểu đường và tăng huyết áp. Đây là những yếu tố nguy cơ chính của suy thận.

- Tránh hút thuốc lá: lối sống có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chức năng của thận, trong đó có việc hút thuốc lá .Các nhà khoa học đã chứng minh rằng hút thuốc lá là một yếu tố gây ra tiểu đạm làm tổn thương thận. Những người hút thuốc lá tăng nguy cơ suy thận gấp 3 lần những người không hút thuốc lá.

- Duy trì thói quen tập thể dục thường xuyên – ít nhất 30 phút tập thể dục mỗi ngày.

- Tránh uống các loại thức uống nhiều năng lượng, có cồn.

- Nên ăn các thức ăn có lợi như ít muối, ít chất béo, ăn nhiều cá, rau quả.

- Không tự ý dùng thuốc bừa bãi.

- Khám định kỳ mỗi 6 tháng hoặc 1 năm để phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh lý có khả năng gây suy thận.

Bệnh suy thận điều cần biết


Bệnh suy thận hiện nay càng ngày càng gia tăng , chủ yếu do những biến chứng như bệnh đái tháo đường , cao huyết áp...Vì vậy bạn cần phát hiện và theo dõi chặt chẽ khi có bệnh .

Vận động nhẹ nhàng tốt hơn là chỉ nằm yên một chỗ 
 Ước tính 50% bệnh nhân đái tháo đường loại 1 (tuổi trẻ) sẽ mắc bệnh thận đái tháo đường sau 10 năm, và 20% bệnh nhân đái tháo đường loại 2 (lớn tuổi) mắc bệnh sau 20 năm. Tốc độ này có thể nhanh hơn nếu bệnh không được kiểm soát tốt.


Khi suy thận bước vào giai đoạn cuối, bệnh nhân chỉ có thể duy trì sự sống bằng những biện pháp thay thế chức năng thận như chạy thận nhân tạo định kỳ, thẩm phân phúc mạc và ghép thận.

Ở nước ta hiện nay chỉ có khoảng 10% bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối được điều trị thay thế chức năng thận, số còn lại đều tử vong do chi phí điều trị rất cao và mạng lưới y tế chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu về hình thức điều trị này.

Phát hiện và theo dõi


Suy thận mãn tính thường không có triệu chứng gì đặc biệt và chỉ biểu hiện ra ngoài như phù, thiếu máu, tăng huyết áp, buồn nôn và nôn khi chức năng thận đã giảm nặng. Đặc tính này khiến bệnh nhân và bác sĩ mất cảnh giác, điều trị ít hiệu quả vì bệnh đã ở giai đoạn trễ.

Cảm thấy mệt mỏi , chóng mặt
Do vậy, tất cả phải bắt đầu từ ngày đầu tiên được chẩn đoán đái tháo đường. Thầy thuốc phải xác định được thận đã tổn thương chưa, ở giai đoạn nào, chương trình theo dõi tổn thương thận phải được thực thi càng sớm càng tốt để từ đó có biện pháp điều trị tương ứng.

Cách theo dõi quan trọng nhất là dựa vào xét nghiệm nước tiểu. Biểu hiện sớm nhất là trong nước tiểu xuất hiện một lượng nhỏ albumin (một loại đạm), và chỉ được phát hiện nếu cố ý tầm soát. Đây là một xét nghiệm chuyên biệt và nên được thực hiện cho đái tháo đường loại 1 năm năm sau chẩn đoán đái đường, và hằng năm cho đái tháo đường loại 2.

Tổn thương thận càng nặng, lượng đạm mất vào nước tiểu càng nhiều, và càng được phát hiện dễ dàng hơn bằng xét nghiệm nước tiểu thông thường. Một số tình trạng bệnh ngắn hạn có thể làm lượng đạm trong nước tiểu tăng thoáng qua như huyết áp tăng, đường huyết tăng, suy tim, sốt... Do đó bác sĩ sẽ tùy theo tình trạng cụ thể của bệnh nhân mà chẩn đoán độ nặng của bệnh thận.

Bên cạnh đó cũng cần đánh giá chức năng thận bằng các xét nghiệm máu đo nồng độ các chất độc mà bình thường được thận đào thải, đó là xét nghiệm urê máu (urê là chất thải của quá trình chuyển hóa đạm) và creatinin máu (là chất thải của sự thoái biến tế bào cơ).

Tần suất làm các xét nghiệm sau đó là tùy bệnh nhân cụ thể, nhưng thường xuyên hơn khi bệnh nặng dần. Bệnh nhân nên được bác sĩ giải thích để nắm vững các giá trị bình thường và bất thường của các xét nghiệm nước tiểu và máu để hiểu thêm về bệnh cũng như hợp tác với bác sĩ trong theo dõi điều trị.

Vào giai đoạn điều trị chuyên sâu

Khi thận tổn thương, bệnh nhân đái tháo đường vẫn có thể được bác sĩ nội tiết theo dõi và điều trị. Tuy nhiên, khi những tổn thương này nhiều tới mức chức năng thận giảm dưới một phần tư giá trị bình thường, bệnh nhân nên được chuyển đến bác sĩ thận học nhằm được điều trị ở mức chuyên khoa sâu hơn, đem lại sự kiểm soát chức năng thận tốt hơn.

Đặc biệt khi thận suy nặng, những biện pháp điều trị trở nên đặc hiệu hơn, đòi hỏi theo dõi sát hơn.

Điều quan trọng hơn cả là bệnh nhân cần được chuẩn bị về mặt tâm lý lẫn cơ thể để bước vào giai đoạn điều trị thay thế chức năng thận. Bệnh nhân sẽ được tư vấn chọn hình thức điều trị thay thế nào (chạy thận, thẩm phân hay ghép thận), được trang bị kiến thức về hình thức điều trị mà mình đã chọn.

Nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân được chuẩn bị tốt thì tỉ lệ tử vong về sau cải thiện hơn so với những bệnh nhân không được chuẩn bị.

Đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường khi vào suy thận mãn giai đoạn cuối, cơ thể thường có những tổn thương ở nhiều cơ quan, nhất là hệ động mạch, do đó càng cần phải chuẩn bị tốt hơn, chẳng hạn như phải được tạo một cầu nối động tĩnh mạch vào thời điểm thích hợp nếu như bệnh nhân chọn hình thức điều trị thay thế là chạy thận định kỳ.


Những biện pháp sau đây đã cho thấy có hiệu quả trong trì hoãn sự xuất hiện của tổn thương thận do đái tháo đường:

• Kiểm soát tốt đường huyết (chỉ số HbA1C < 7% cho hầu hết bệnh nhân).

• Kiểm soát tốt huyết áp (huyết áp < 140/90 mmHg cho hầu hết bệnh nhân).

• Dùng thuốc ức chế hệ hormone renin - angiotensin - aldosterone. Khi các hormone này bị ức chế, sự mất đạm vào nước tiểu giảm đi, làm giảm tổn thương thận.

Lời khuyên cho những người có những thói quen sau không sớm thì muộn cũng bị suy thận

Thực hiện những điều dưới đây hàng ngày sẽ khiến cho thận bạn bị suy giảm chức năng , dẫn đến suy thận cấp . Vì vậy bạn cần bỏ ngay từ hôm nay.




Áp lực lớn, cảm giác buồn phiền

Công việc và cuộc sống hiện đại đều rất áp lực, “chán và mệt” dường như đã trở thành câu cửa miệng của rất nhiều người. Và những cảm xúc này sẽ làm tổn thương thận.

Lời nhắc nhở dành cho bạn: thói quen thức khuya, uống rượu, ăn uống không lành mạnh,v.v đang làm hại sức khỏe của bạn, nhất định phải cẩn thận, duy trì cuộc sống khỏe mạnh hàng ngày.

Uống nước quá nhiều hoặc quá ít . Những chất cặn bã trong quá trình trao đổi chất chủ yếu được gan và thận xử lý. Trong đó, thận phụ trách vai trò duy trì sự cân bằng giữa nước và các chất điện giải, đồng thời thải các chất độc qua đường nước tiểu.

Trong quá trình đào thải độc này, nước đóng vai trò là thành phần chủ chốt. Uống ít nước đồng nghĩa với việc thận không có đủ điều kiện để bài tiết độc tố.Ngược lại, uống quá nhiều nước lại làm gia tăng gánh nặng đối với cơ quan này, đồng thời khiến cho lượng nước thừa bị lưu lại trong cơ thể, gây ra hiện tượng phù thũng.Lời khuyên: Lượng nước tiểu ổn định thường ở vào khoảng 1.500 – 2.000ml/ngày. Vì vậy, chúng ta cần đảm bảo hấp thu lượng nước tương đương với 6 chai nước khoáng là có thể đảm bảo công năng của thận.

Tập thể dục nặng đột ngột

Bận rộn công việc thường lâu không vận động, đột ngột tập thể dục nặng có thể làm cho thận quá tải, gây hại thận, nghiêm trọng có thể dẫn đến suy thận cấp tính.


Làm việc quá sức

Cường độ làm việc cao dẫn đến mệt mỏi, gây ra các triệu chứng biểu hiện thận hư. Tiếp đến là sử dụng trí não quá độ, áp lực lớn trong công việc cũng như cuộc sống làm cho tinh thần không được thư giãn, đầu óc mệt mỏi cũng dễ làm thận suy kiệt.

Một số thành phần thuốc gây hại cho thậnGentamicin, Streptomycin, Sullfamid, kháng sinh nhóm aminoglycoside , rifampin trong thuốc chống lao là các nhóm thuốc nếu dùng không đúng cách sẽ gây nhiễm độc thân.Nếu buộc phải sử dụng thuốc chứa các thành phần này, bệnh nhân cần tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ dẫn của bác sĩ để tránh những tác dụng phụ gây thương tổn đến thận.

Nguy hiểm từ sỏi bàng quang có thể gây suy thận

Các triệu chứng của sỏi bàng quang dễ bị nhầm lẫn với u xơ tiền liệt tuyến, u bàng quang. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời người bệnh có nguy cơ bị suy thận .

Sỏi bàng quang
Sỏi bàng quang là chứng bệnh thường gặp ở người trưởng thành, chiếm khoảng 1/3 các trường hợp có sỏi ở hệ tiết niệu. Bệnh gặp ở cả nam và nữ, nhưng nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn.
Trong trường hợp sỏi nhỏ, chữa viêm bàng quang, chưa có bít tắc đường niệu thì hầu như không có biểu hiện gì đặc biệt. Nhiều người tình cờ phát hiện ra bệnh khi chụp X-quang bụng, xương chậu vì một bệnh lý khác.
Sỏi to sẽ gây kích thích, chèn ép, bít tắc chỗ nối bàng quang và niệu đạo, làm cho bệnh nhân bị đau buốt vùng hạ vị, lan dần ra phía đầu bộ phận sinh dục hoặc tầng sinh môn, cơn đau trội lên về cuối bãi tiểu tiện. Bệnh nhân nam phải thường bóp chặt lấy đầu dương vật để đỡ đau. Nhiều người còn bị tiểu rắt, tiểu khó, bí tiểu ngắt quãng từng đợt trong một lần đi tiểu. Thậm chí một số trường hợp bí tiểu hoàn toàn làm nước tiểu ứ lại trong bàng quang, bàng quang căng phồng lên tạo nên “cầu bàng quang” ở trên xương mu.

Bị bí tiểu do sỏi bàng quang
Khi bị viêm nhiễm bàng quang do sỏi, bệnh nhân sẽ bị tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu đục, tiểu ra máu, đặc biệt là cuối bãi. Nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm sẽ dẫn đến biến chứng viêm bàng quang cấp, mạn tính, teo bàng quang, rò bàng quang, làm nước tiểu chảy vào tầng sinh môn hoặc âm đạo, nước tiểu chảy ri rỉ qua âm đạo hoặc hậu môn gây nhiều bất tiện trong sinh hoạt và lâu ngày gây nhiễm khuẩn. Bên cạnh đó còn hai biến chứng rất nguy hiểm khác là viêm thận do nhiễm khuẩn ngược dòng và suy thận. Hai biến chứng này điều trị tốn kém và rất nguy hiểm cho tính mạng.
Các triệu chứng của sỏi bàng quang có nhiều đặc điểm lâm sàng dễ nhầm lẫn với các bệnh như u xơ tiền liệt tuyến, u bàng quang. Chính vì thế, để chẩn đoán chính xác bệnh và phòng các biến chứng, khi thấy xuất hiện những dấu hiệu của bệnh như đã kể trên, phải đi khám ngay ở các chuyên khoa tiết niệu.
Bệnh sỏi bàng quang do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể là sỏi từ thận và niệu quản rơi xuống, là sỏi nhỏ bệnh nhân có thể thải ra ngoài được theo nước tiểu nhưng là sỏi lớn sẽ bị tắc lại, lâu ngày sẽ to dần lên do bị các cặn sỏi tiếp tục bám vào. Cũng có thể sỏi bàng quang hình thành do quá trình người bệnh sử dụng thuốc điều trị các bệnh khác có nhiều chất làm kết tủa, lắng đọng gây ra sỏi. Một số trường hợp lại do các bệnh gây chít tắc cổ bàng quang như u xơ tiền liệt tuyến, chít hẹp niệu đạo, túi thừa bàng quang hoặc do có dị vật trong bàng quang, từ các dị vật đó cặn sỏi dần dần bám vào tích tụ thành sỏi.
Để phòng bệnh, hằng ngày cần uống đủ 1,5 lít nước. Những người đang điều trị bệnh nội khoa phải sử dụng thuốc càng phải lưu ý uống nhiều nước, tránh cho quá trình tích lũy cặn sỏi gây ra sỏi (tránh cả sỏi thận và sỏi bàng quang). Khi bị sỏi và nhiễm khuẩn bàng quang, bệnh nhân phải chú ý vệ sinh sạch sẽ đường tiểu, sử dụng thuốc kháng sinh theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Tùy từng mức độ của sỏi, các bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật hay mổ nội soi. Hiện nay các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương đều có thể xử trí sỏi bàng quang rất tốt. Người bệnh cần được phát hiện bệnh sớm để có kết quả điều trị tốt, tránh các biến chứng đáng tiếc xảy ra.

Thực phẩm bệnh nhân suy thận mạn nên ăn

Một chế độ dinh dưỡng hợp lý đối với bị suy thận mạn là điều rất quan trọng , nó góp phần làm chậm tiến triển suy thận mạn đến giai đoạn cuối. Vì vậy bạn cần biết những thực phẩm người suy thận mãn nên ăn .

Thực phẩm nên chọn


Những thực phẩm nên chọn

- Chất bột đường: chất bột ít đạm như gạo xay trắng, miến, bột sắn dây, khoai lang, khoai sọ, bún, hủ tíu, phở…

Bệnh nhân suy thận mạn kèm bệnh đái tháo đường, chọn thực phẩm có chỉ số đường thấp, trung bình: khoai sọ, bún, bánh canh, bánh cuốn, khoai lang…

- Chất đạm: nên ăn đa dạng, chú ‎ý đạm giá trị sinh học cao (thịt, cá, sữa, trứng). Nếu bệnh nhân kèm rối loạn mỡ máu nên ăn trứng 3 quả/tuần, cách ngày, thịt bò 1-2 lần/tuần, cá biển (cá hồi, trích, cá nục…) 2 lần/tuần…

Số lượng ăn tùy theo mức độ suy thận, suy thận giai đoạn 3b-4, lượng đạm ăn vào thường giảm một nửa so với khẩu phần đạm của người bình thường (100 – 120g thịt (cá)/ngày).

- Chất béo: chọn dầu thực vật (dầu mè, nành, ôliu…), mỡ cá .

- Rau, trái cây:

+ Giai đoạn bệnh thận mạn nhẹ (độ lọc cầu thận GFR ≥ 60) có thể ăn đa dạng rau, trái cây có màu xanh, màu đỏ, màu vàng, tím…

+ Bệnh nhân có kèm theo bệnh đái tháo đường nên chọn trái cây có chỉ số đường huyết thấp, trung bình: táo tây, cam, quít, bưởi… với số lượng tùy mức kali máu.

- Nước uống: Dựa vào cân bằng nước xuất, nhập, cần điều chỉnh khi có giảm lượng nước tiểu, có phù, suy tim.

Ví dụ: số lượng nước tiểu 1500ml/24giờ, không phù, không suy tim thì:

Nước uống vào = 1500 ml + 300ml = 1800ml/24giờ (gồm nước uống, sữa, nước canh …)

- Gia vị : Nên chọn thực phẩm ít muối, nên đọc nhãn thực phẩm trước khi mua.

1g muối ăn NaCl có khoảng 400mg natri (Na), tương đương 1,5 muỗng cà phê nước mắm hay nước tương;

1 muỗng cà phê lưng muối ăn = 5g NaCl = 2000mg Na.





Thực phẩm cần hạn chế

- Hạn chế thực phẩm nhiều kali (đối với bệnh nhân suy thận giai đoạn nặng có giảm lượng nước tiểu hay tăng kali/máu): nho khô, chuối khô, thanh long, trái bơ…, rau lá xanh đậm (rau ngót, rau đay, giền, rau muống…), hạt sen khô, nấm mèo, các loại đậu.

- Bệnh nhân có bệnh đái tháo đường cần hạn chế thực phẩm có chỉ số đường huyết cao: bánh mì trắng, khoai tây, gạo đỏ huyết rồng, bánh bột ngô nướng, miến, bánh kẹo ngọt…)

- Hạn chế chất béo có hại: thực phẩm nhiều cholesterol, béo bão hòa: lòng đỏ trứng, bơ, phômai, mỡ, gan, tim…), dầu dừa.

- Hạn chế thực phẩm có nhiều phospho: tôm khô, lòng đỏ trứng, nấm đông cô, đậu nành, hạt sen khô, thịt bò…

- Hạn chế thực phẩm có nhiều muối natri: mắm, cá khô, tôm khô, hột vịt muối, bánh mì, mì ăn liền, khoai tây chiên…

Không nên uống quá nhiều nước, vì điều này sẽ làm cho cơ thể phù nhiều hơn, huyết áp khó kiểm soát; đồng thời nếu ở bệnh thận mạn giai đoạn đầu, bệnh nhân sẽ tiểu nhiều hơn đặc biệt là tiểu đêm gây khó ngủ.

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

Su hào thực phẩm bổ dưỡng rất tốt cho cơ thể

Su hào là một những loại củ chứa hàm lượng chất khoáng và vitamin cao rất tốt cho sức khỏe trong mùa đông .Vì vậy bạn nên ăn chúng thường xuyên để tăng cường sức khỏe.




Su hào (từ tiếng Pháp: chou-rave, danh pháp hai phần: Brassica oleracea nhóm Gongylodes) là một giống cây trồng thân thấp và mập của cải bắp dại, được chọn lựa vì thân mập, gần như có dạng hình cầu, chứa nhiều nước của nó. Su hào được tạo ra từ quá trình chọn lọc nhân tạo để lấy phần tăng trưởng của mô phân sinh ở thân, mà trong đời thường được gọi là củ. Nguồn gốc tự nhiên của nó là cải bắp dại.

Mùi vị và kết cấu của su hào là tương tự như của thân cải bông xanh hay phần lõi của cải bắp (cả hai loại này là cùng loài với su hào, nhưng khác nhóm giống cây trồng), nhưng nhẹ hơn và ngọt hơn, với tỷ lệ phần cùi thịt/vỏ cao hơn. Ngoại trừ nhóm giống Gigante, thì các giống su hào trồng vào mùa xuân ít khi có kích thước trên 5 cm, do chúng có xu hướng bị xơ hóa, trong khi đó các giống trồng vào mùa thu lại có thể có kích thước trên 10 cm; giống Gigante có thể có kích thước lớn hơn mà vẫn giữ được chất lượng tốt để ăn.

Phòng chống ung thư

Su hào là một trong những loại rau có nồng độ phytochemical cao. Đặc biệt glucosinolates, được coi là một trong những hợp chất chống oxy hóa quan trọng nhất để ngăn chặn bệnh ung thư , bao gồm ung thư vú và tuyến tiền liệt.

Thanh lọc máu và thận

Su hào được xem là loại thực phẩm cung cấp khá tốt về vitamin C, potassium, vitamin B6, vì vậy, theo các chuyên gia, su hào được đánh giá là loại thực phẩm giúp thanh lọc máu và thận tốt, loại bỏ các chất độc ra khỏi cơ thể, giúp tiêu hóa dễ dàng.

Giúp mẹ và thai nhi phát triển tốt hơn

Các vitamin và khoáng chất có trong su hào tốt cho quá trình mang thai của phụ nữ.

Các vitamin và khoáng chất có trong su hào như selen, axit folic, kali, magiê... có thể giúp bổ sung dưỡng chất cho quá trình mang thai của người phụ nữ tốt hơn, đồng thời tăng cường hoạt động não bộ, hệ thần kinh của trẻ khỏe hơn.

Tốt khi muốn giảm cân

Mặc dù là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhưng su hào có chứa rất ít calo. Chúng ta biết rằng, mức dinh dưỡng trên mỗi calo càng cao thực phẩm đó càng tốt cho sức khỏe. Vì vậy su hào rất hợp với người ăn kiêng vì nó đáp ứng được lượng vitamin và khoáng chất mà không làm vượt quá lượng calo, hạn chế nguy cơ thừa cân.

Ngoài những chất trên, su hào còn chứa nhiều chất khoáng khác tốt cho cơ thể như đồng, canxi, mangan, sắt và phốt pho.

Tốt cho xương, thần kinh và cơ

Khi chúng ta già, xương sẽ suy yếu, nhưng có một cách tốt nhất để tránh hoặc làm chậm quá trình này là sử dụng thực phẩm. Su hào là một trong số đó, với lượng mangan cao, sắt, canxi. Phòng ngừa bệnh loãng xương là điều nên làm khi bạn còn trẻ.

Ngoài ra, lượng kali có trong su hào tốt cho chức năng thần kinh và cơ, bởi khi các bộ phân cơ thể nhận đầy đủ lượng kali sẽ làm cho chúng ta xử lý thông tin nhanh và không bị kích động khi gặp chuyện rắc rối.

Tốt để phòng cảm cúm

Trong su hào có chứa đa số vitamin C. Vào mùa đông, nếu ăn su hào, vitamin C trong su hào sẽ làm cho các bộ phân cơ thể tăng cường sức khỏe hệ miễn dịch. Hệ miễn dịch khỏe mạnh cũng là các bộ phân cơ thể tránh được các bệnh như tim mạch và ung thư. Ngoài ra vitamin C còn làm cho cải thiện sự hấp thu và phục hồi nguồn cung vitamin E cho các bộ phân cơ thể.

Lưu ý: Su hào có thể chứa goitrogens, các hợp chất thực vật thường gặp trong các loại rau họ cải bắp như bông cải, súp lơ… có thể gây sưng tuyến giáp. Vì thế, những người bị rối loạn chức năng tuyến giáp nên hạn chế dùng su hào.

Sự thật về ăn lòng trắng trứng sống nguy cơ về nhiễm khuẩn co giật

Lòng trắng trứng sống chứa một lượng dinh dưỡng cao , nhưng việc lạm dụng quá sẽ có tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe .

Lòng trắng trứng rất bổ dưỡng nhưng cũng có tác dụng phụ nguy hiểm nếu lạm dụng, nhất là khi ăn sống
Theo TTVN, lòng trắng trứng là một chất gel trong suốt bao quanh trung tâm lòng đỏ của trứng. Lòng trắng trứng có chứa hơn một nửa protein của trứng và chứa calo tối thiểu. Ngoài ra, hầu hết các chất dinh dưỡng của trứng như niacin, riboflavin, kali và magiê, đều nằm trong lòng trắng trứng.

Lòng trắng trứng được sử dụng rất phổ biến, thậm chí còn phổ biến hơn cả lòng đỏ bởi nó được dùng như một loại nguyên liệu để làm các loại bánh. Đồng thời, một số người thích ăn trứng nhưng lại không muốn nạp chất béo vào cơ thể nên chỉ ăn lòng trắng.

Tuy nhiên, cũng giống như mọi thực phẩm khác, trứng cũng có một vài tác dụng phụ nếu ăn nhiều hoặc sử dụng không đúng cách, đặc biệt là lòng trắng trứng.

Nguy cơ giảm huyết áp đột ngột do dị ứng

Dị ứng khi ăn lòng trắng trứng

Theo ghi nhận từ Zing News, hầu hết trường hợp bị dị ứng với trứng là do dị ứng với protein trong lòng trắng, thường gặp ở trẻ nhỏ từ 3-5 tuổi. Trong nhiều trường hợp, những người bị dị ứng với lòng trắng trứng gà cũng bị dị ứng với protein albumin. Nổi mề đay, phát ban, da sưng phồng, buồn nôn, tiêu chảy, nôn mửa, thở khò khè, ho, hắt hơi, chuột rút, là những triệu chứng phổ biến. Những triệu chứng nghiêm trọng cũng có thể xảy ra khi bị dị ứng với lòng trắng trứng bao gồm khó thở, sưng cổ họng, đau miệng, đột ngột giảm huyết áp có thể dẫn đến chóng mặt và mất tập trung.

Thiếu hụt vitamin H, B7 có nguy cơ co giật

Ăn lòng trắng trứng sống có thể gây ra sự suy giảm biotin. Biotin còn được gọi là vitamin H hoặc vitamin B7. Sự thiếu hụt biotin có thể gây ra viêm da tiết bã ở trẻ em và viêm da đầu ở người lớn. Ngoài ra, việc đau nhức cơ bắp, co thắt cơ, co giật và rụng tóc cũng là một số trong những vấn đề sức khỏe khác gây ra bởi sự thiếu hụt biotin.

Nhiễm khuẩn salmonella nếu ăn sống

Trứng sống, bao gồm cả lòng trắng trứng, có thể bị nhiễm khuẩn. Salmonella là một loại vi khuẩn được tìm thấy trong ruột của gà và có thể có trên bề mặt của vỏ trứng. Để tiêu diệt vi khuẩn salmonella, cần phải nấu trứng thật kỹ ở nhiệt độ cao. Lời khuyên hữu ích cho bạn là nên chế biến kỹ trứng gà bằng cách luộc chín hoặc chiên và không nên ăn sống.

Gây quá tải cho thận vì thừa protein

Quá nửa lượng protein trong quả trứng nằm ở lòng trắng, vì vậy nếu bạn ăn nhiều lòng trắng sẽ gặp vấn đề thừa protein. Việc nạp 1 lượng lớn protein có thể quá tải cho thận và nếu bạn đang có vấn đề về sức khỏe thận thì điều này sẽ gây ảnh hưởng rất lớn. Bởi vậy những người có vấn đề về thận cần hỏi ý kiến của bác sĩ về lượng trứng được phép tiêu thụ để không gây bất lợi cho tình trạng bệnh của mình.